TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ


 

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

 

Chuyên ngành: Kinh Tế Chính Trị Mã số: 60 31 01

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

  1. ĐÀO THỊ BÍCH THỦY

HÀ NỘI – 2009

 

 

 

MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i

Danh mục các bảng ii
Danh mục các biểu ii
LỜI MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1 08
LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA SOLOW VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow và phương pháp 08
hạch toán tăng trưởng
1.1.1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow 08
1.1.1.1. Hàm sản xuất và những nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế 09
1.1.1.2. Mối quan hệ giữa tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn 10
1.1.2. Phương pháp hạch toán tăng trưởng 15
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá nguồn lực tăng trưởng kinh tế và vận 19
dụng vào Việt Nam
1.2.1. Thu nhập bình quân đầu người 19
1.2.2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – Năng suất lao 19
động
1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – Hệ số ICOR 19
1.2.4 . Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) 20
CHƯƠNG 2 24
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
2.1. Các nguồn tăng trưởng kinh tế Việt Nam 24
2.1.1. Vốn đầu tư 24
2.1.2. Nguồn lực con người 25
2.1.2.1. Năng suất lao động và việc áp dụng tính toán ở Việt Nam 27
2.1.2.1.1. Phân tích năng suất lao động chung toàn nền kinh tế giai 29
đoạn 2001 – 2008
2.1.2.1.2. Phân tích năng suất lao động theo khu vực kinh tế 31
2.1.2.1.3. Phân tích năng suất lao động theo ngành kinh tế 33
2.1.3. Khoa học công nghệ 39
2.1.4. Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế 41
2.1.5. Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành trong nền kinh tế 43
2.2. Phân tích vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh 46
tế Việt Nam
2.2.1. Tác động của Khoa học &Công Nghệ đối với Tăng trưởng kinh 48
tế
2.2.2. Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế 49
2.3. Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế 51
Việt Nam
2.3.1. Đánh giá vai trò của nguồn vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh 51
tế Việt Nam
2.3.2. Đánh giá vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế 54
Việt Nam
2.3.3. Đánh giá vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng 55
kinh tế Việt Nam
2.3.4. Đánh giá vai trò của TFP đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam 58
2.3.5. Đánh giá vai trò của các yếu tố đầu ra đối với tăng trưởng kinh 59
tế Việt Nam
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC 64
NGUỒN LỰC CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Triển vọng và quan điểm tăng trưởng kinh tế Việt Nam 64
3.1.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 64
3.1.2. Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới 65
3.2. Các giải pháp pháp huy các nguồn lực tăng trưởng kinh tế 69
Việt Nam
3.2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô 69
3.2.1.1. Cải cách toàn diện nền kinh tế 69
3.2.1.2. Từ bỏ cơ cấu kinh tế theo đuôi, tìm lối đi riêng dựa vào những 73
điểm Việt Nam có lợi thế
3.2.2. Nhóm giải pháp vi mô 75
3.2.2.1. Tăng việc làm, tạo nguồn việc làm mới để tăng GDP 75
3.2.2.2. Đầu tư cho công nghệ 76
3.2.3. Một số giải pháp khác 78
3.2.3.1. Giảm chi phí trung gian là biện pháp quan trọng để thực hiện 78
mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
3.2.3.2. Phát huy và sử dụng mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sản 79
xuất
3.2.3.3. Đổi mới công nghệ và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trong hoạt 80
động của doanh nghiệp
3.2.3.4. Nhận thức đúng vai trò của tín dụng, ngân hàng trong việc 82
phân phối và tối ưu hoá nguồn vốn xã hội
3.2.3.5. Phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho nền kinh 84
tế
3.3. Gợi ý giải pháp phát triển các nguồn lực tăng trưởng kinh tế 86
Việt Nam trong thời gian tới
3.3.1. Tăng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) để nâng cao chất 86
lượng tăng trưởng
3.3.2. Khuyến khích phát triển một số lĩnh vực 87
3.3.2.1. Khuyến khích tiết kiệm và đầu tư 87
3.3.2.2. Khuyến khích đầu tư từ nước ngoài 87
3.3.2.3. Khuyến khích giáo dục 88
3.3.2.4. Bảo vệ quyền sở hữu và duy trì ổn định chính trị 88
3.3.2.5. Khuyến khích thương mại tự do 88
3.3.2.6. Kiểm soát tăng trưởng dân số 89
3.3.2.7. Khuyến khích nghiên cứu và triển khai 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

 

GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội GNP Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc dân
TFP Total Factor Productivity – Năng suất nhân tổ tổng hợp (Tổng năng suất nhân tố sản xuất)
ICOR Incremental capital output ratio – Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn
NSLĐ Năng suất lao động

APO Asia Productivity Organization – Tổ chức năng suất châu Á
ASEAN Association of Southest Asia Nations – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
WB World bank – Ngân hàng thế giới

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
– Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp quốc
UNDP United Nations Development programme – Chương trình phát triển liên hợp quốc
WEF World Economic Forum – Diễn đàn kinh tế thế giới KH&CN Khoa học và Công nghệ
R&D Research and Development – Hoạt động nghiên cứu và phát triển
ODA Official Development Assistance – Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
FDI Foreign direct investment – Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

GS Goldman Sachs – Ngân hàng đầu tư hàng đầu của Mỹ CEPR Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách
VA Tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm

GO Tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất i

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của Việt Nam, 1991-2008 24
Bảng 2.2: Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của 30
một số nước và lãnh thổ trên thế giới năm 2008
Bảng 2.3: Tốc độ tăng năng suất lao động của các khu vực kinh tế 33
thời kỳ 2001 – 2008
Bảng 2.4: Tốc độ tăng năng suất lao động của các ngành kinh tế 35
thời kỳ 2004 – 2008
Bảng 2.5: Tỷ trọng lao động của các ngành kinh tế qua các năm 36
Bảng 2.6: Mức độ đóng góp của thay đổi cơ cấu lao động giữa các 37
ngành đối với mức tăng của NSLĐ chung toàn nền kinh tế quốc dân
Bảng 2.7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1991 – 2008 41
Bảng 2.8: Chỉ số Icor của Việt Nam từ 1990 đến 2008 45
Bảng 2.9: Các nhân tố tăng trưởng của Việt Nam qua các thời kỳ 46
Bảng 2.10: Vốn đầu tư và tích lũy tài sản (theo giá 1994) 52
Bảng 2.11: Đóng góp của TFP vào tăng trưởng Việt Nam qua các 59
thời kỳ
Bảng 2.12: Các nguồn tăng trưởng GDP ở Việt Nam giai đoạn 62
1986 -2002
Bảng 3.13: Báo cáo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008 66
DANH MỤC CÁC BIÊU
Biểu 2.1: Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội từ 2001 đến 2008 29

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc là mong ước của mọi người. Bàn luận về điều này thật có ý nghĩa vô cùng to lớn. Cùng với sự phát triển của nhân loại, những nghiên cứu về các vần đề kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường đã làm tốn không biết bao thời gian, công sức, trí tuệ mà vẫn là chưa đủ.
Trong lời tựa cuốn sách nhan đề “Vì chất lượng cuộc sống tốt hơn”, được coi là tài liệu xác định Chiến lược Phát triển bền vững của Chính phủ Vương quốc Anh, Thủ tướng Tony Blair viết: “Tiến bộ thực sự không thể đo bằng tiền. Chúng ta phải bảo đảm rằng tăng trưởng kinh tế đóng góp cho chất lượng cuộc sống của chúng ta, chứ không phải là làm cho nó xấu đi… Tăng trưởng vừa phải ổn định, vừa phải bền vững về mặt môi trường. Điều có ý nghĩa quan trọng ở đây là chất lượng của tăng trưởng, chứ không chỉ là số lượng.” [17, tr 7]
Còn trong phần Tổng quan mở đầu cuốn sách “Chất lượng tăng trưởng”, do Ngân hàng Thế giới tổ chức biên soạn và xuất bản, có đoạn viết: “Thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 đã chứng kiến bước tiến bộ đáng kể tại nhiều khu vực trên thế giới, đồng thời cũng chứng kiến sự trì trệ và những bước thụt lùi, thậm chí ở cả những quốc gia trước đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại nhanh nhất. Những khác biệt đang tiếp tục gia tăng và những đảo lộn ghê gớm này cho ta hiểu nhiều điều về những gì là yếu tố đóng góp cho phát triển. Đứng ở vị trí trung tâm là tăng trưởng kinh tế, nhưng không chỉ là tốc độ tăng (về số lượng) của nó, mà cũng quan trọng như vậy là cả chất lượng của tăng trưởng”[18, tr 16]
Đến đây, chúng ta có thể nói rằng, các phạm trù – phát triển và phát triển bền vững, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng – có mối quan hệ gần gũi với nhau, nhưng không trùng lặp, mà bổ sung lẫn cho nhau. Mỗi phạm trù đều có nội hàm riêng, thể hiện quá trình phát triển của tư duy, nhận thức của con người về tự nhiên, về xã hội và về bản thân cuộc sống của mình.

Có thể thấy, phạm vi của khái niệm “chất lượng tăng trưởng” là khá rộng và các tiêu chí định lượng để đánh giá nó vẫn còn trong quá trình tiếp tục được nghiên cứu, xác định. Cho đến nay, vì nhiều lý do, trong đó có việc cho phép so sánh quốc tế, GDP (GNP) và GDP (GNP) bình quân đầu người (cả số tuyệt đối và số tương đối) vẫn là hai tiêu chí được cả thế giới thừa nhận và sử dụng để đo lường, đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng, cũng từ lâu trong kinh tế học, cả lý thuyết và thực hành, người ta đã lưu ý về những điểm hạn chế, điểm không phù hợp của các thước đo này, nhất là liên quan đến phúc lợi và chất lượng cuộc sống và trong những khía cạnh xã hội của quá trình phát triển. Với sự phân biệt ngày càng chi tiết và sâu sắc giữa “tăng trưởng” và “phát triển”, đặc biệt là trong quá trình xây dựng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững, các học giả kiến nghị rằng thước đo về phát triển phải bao gồm không chỉ tốc độ tăng trưởng, mà cả các khía cạnh về chất lượng như cơ cấu, sự phân bổ và tính bền vững của tăng trưởng. Từ đó, trong hoạt động thực tiễn ở nhiều quốc gia, một số tiêu chí và đại lượng đã lần lượt được áp dụng. Trong đó yếu tố năng suất được đặc biệt chú ý.
Ngày nay, năng suất có quan hệ nhiều mặt của nền kinh tế – xã hội, liên quan đến sản xuất và đời sống của dân cư. Nó trở thành nội lực phát triển của các công ty, ngành và nền kinh tế. Hơn nữa, nó còn là cơ sở đảm bảo cho đời sống của dân cư ngày càng tốt hơn. Lấy một thí dụ để thấy sự quan trọng của hiệu suất. Các nền kinh tế ở Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan từ giữa thập niên 1960 và Trung Quốc từ thập niên 1980 đã cho thấy một sự phát triển kỳ diệu. Tuy nhiên nếu so với thời đại phát triển thần kỳ của Nhật (1950-1973) thì Nhật hiệu suất hơn nhiều. Nhật dùng lượng tư bản ít hơn và phát triển với tốc độ cao hơn. Chẳng hạn, trường hợp Hàn Quốc trong giai đoạn 1960-1994, kinh tế tăng trưởng bình quân năm là 8,3%, trong đó tư bản đóng góp 4,3%, lao động 2,5% và hiệu suất 1,5%, trong khi Nhật trong giai đoạn 1950-1973, kinh tế tăng trưởng tới 9,2% nhưng tư bản chỉ đóng góp 3,4% (nhỏ hơn Hàn Quốc) vì hiệu suất đóng góp tới 3,6%. Chính vì vậy, luận văn này sẽ nghiên cứ u cá c cá ch tiếp cận mới về bản chất năng suất ,

tổ ng hợ p và phân tí ch cơ sở củ a việc đo lường năng suấ t . Trên cơ sở đó, sẽ trình bày phương pháp phân tích biến động năng suất, tổ ng hợ p và tì m hiể u cá c nghiên cứ u về lượng hoá vai trò cũ ng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố củ a tăng trưở ng đến sự biến động đó. Đồng thời xem xét ảnh hưởng của năng suất đến các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác. Trong đó, chú trọng đến phân tích chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), từ đó đánh giá đượ c vai trò của của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế (theo nghĩa nguyên gốc, gắn với GDP) bắt nguồn từ ba yếu tố đầu vào là vốn, lao động và tiến bộ công nghệ (bao quát công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý và một số khía cạnh liên quan khác). Để đánh giá ba yếu tố này, lâu nay, người ta sử dụng các tiêu chí ICOR, năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp – TFP. TFP là chữ viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh “Total Factor Productivity” (có tác giả dịch là “tổng năng suất nhân tố sản xuất”).
Trong tăng trưởng GDP có sự đóng góp của vốn và lao động (là hai trong ba nhân tố sản xuất cơ bản cùng với đất đai). Ở trên chúng ta đã nói về đóng góp của vốn và lâu nay ta đã quen thuộc với khái niệm năng suất lao động. Nhưng nhiều khi chúng ta muốn biết hiệu quả của các đầu vào tính gộp chung, chứ không chỉ riêng từng đầu vào. Về cơ bản, khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp – TFP là một cách đo lường đồng thời năng suất của cả vốn lẫn lao động trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế. Cách tiếp cận được sử dụng ở đây là thông qua “hàm sản xuất” có dạng: GDP = A × f(K, L), thể hiện quan hệ giữa GDP và các đầu vào – vốn K và lao động L, trong đó A đại diện cho năng suất nhân tố tổng hợp.
Có thể nói, TFP là thước đo phản ánh hiệu quả kinh tế trong sử dụng vốn và lao động; Song, với cách tiếp cận tổng thể này, ta có thể bổ sung các yếu tố khác. Trong các yếu tố bổ sung, người ta quan tâm nhiều đến tiến bộ công nghệ và các biện pháp quản lý, điều hành, cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Nhiều nghiên cứu đã được các học giả trên thế giới tiến hành về vai trò của TFP đối với tăng trưởng. Đối với một quốc gia, vốn và lao động là những đại lượng hữu hạn, vì thế các học giả

khuyến cáo các chính phủ cần tập trung thúc đẩy TFP. Họ cũng đi đến kết luận rằng sự khác biệt giữa các quốc gia về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng phần lớn bắt nguồn từ khác biệt trong TFP. Đến nay, trong nghiên cứu phân tích tăng trưởng kinh tế, người ta thống nhất chỉ tập trung vào ba thành phần tạo nên tăng trưởng là vốn, lao động và TFP (trong hệ thống số liệu thống kê công bố hàng năm, nhiều nước đã công bố tỷ lệ phần trăm đóng góp của từng thành phần trong tăng trưởng GDP). Có nhiều yếu tố có thể góp phần thúc đẩy TFP. Năng lực tổ chức và quản lý; hệ thống giáo dục quốc gia cùng với hoạt động nghiên cứu – triển khai, công tác phổ biến và chuyển giao công nghệ; việc phân bổ nguồn lực; chính sách kinh tế, v.v… đều đóng góp vào việc đó.
Để kinh tế phát triển nhanh và bền vững, hiệu suất đóng vai trò quan trọng nhất. Hiệu suất cao là động lực làm cho kinh tế tăng trưởng cao hoặc/và tiết kiệm được nguồn lực đầu tư cho tư bản cố định, dành nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư hạ tầng xã hội và giáo dục, văn hóa. Phát triển chú trọng hiệu suất theo nghĩa đó cũng làm giảm áp lực đối với môi trường. Dĩ nhiên không ai là không thấy sự quan trọng của hiệu suất. Nhưng nguồn gốc của hiệu suất ở đâu và làm thế nào để tăng hiệu suất thì không phải là vấn đề dễ thấy. Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ điều này.

2. Tình hình nghiên cứu

 

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu định lượng về các nguồn tăng trưởng kinh tế như các nghiên cứu TFP trong các ngành dệt may và nông nghiệp. Tuy nhiên, đây mới là các nghiên cứu ở mức khu vực ngành nghề; Cụ thể là các đề tài sau:
– Nghiên cứu xác định các chỉ tiêu thống kê đánh giá chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế” do Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia chủ trì – Đề tài đượ c nghiên cứ u và o năm 2001 có nội dung mang tính chất tổng hợp, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của quốc tế kết hợp với phân tích lý luận để áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam.

– Nghiên cứu tính chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp ở Việt Nam do Viện Khoa học Thống kê chủ trì và phối hợp với một số đơn vị trong Tổng cục, kết quả nghiên cứu năm 2002 này đã làm rõ nội dung, bản chất của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và phương pháp tính tốc độ tăng TFP, mối quan hệ của TFP với năng suất tổng hợp chung. Trên cơ sở đó đã phân tích, xác định khả năng và điều kiện tính toán tốc độ tăng TFP ở Việt Nam, tính toán thử nghiệm tốc độ tăng TFP và đóng góp của nó đối với sự tăng lên của giá trị tăng thêm.
Ngoài ra, có rất nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, phương pháp tiếp cận cũng như cách tính TFP trong lĩnh vực thống kê – tin học như:
– Các phương pháp tính tốc độ tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) theo cách tiếp cận thống kê năm 2003 của TS Tăng Văn Thiên (Viện Khoa học Thống kê).
– Lê Dân- Bộ môn Thống kê Tin học- Đại học Đà Nẵng năm 2002 vớ i đề tài: Giới thiệu bản chất của TFP và phương pháp nghiên cứu sự biến động của nó.
Đặc biệt, thạc sỹ Nguyễn Thị Bích Hồng, trường đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh đã ứng dụng TFP trong phân tích tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 đến 2006. Đề tài này đánh dấu sự nỗ lực của các nhà khoa học kinh tế trong việc tìm hiểu, tính toán và ứng dụng TFP để tìm ra nguyên nhân tăng trưởng của nền kinh tế Đà Nẵng trong một giai đoạn nhất định. Điều này khẳng định hơn nữa giá trị của việc ứng dụng tính toán TFP trong phân tích tăng trưởng.
Đối với tổng thể nền kinh tế, hầu như chưa có nghiên cứu đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài: “Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam” nhằm khám phá và xác định các nhân tố có khả năng tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tìm hiểu phương pháp ứng dụng các tính toán về tốc

độ tăng trưởng năng suất nhân tố (TFP) để xác định một cách chính xác và đo lường tác động của các các nhân tố này đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đồ ng thờ i tổ ng hợ p cá c kế t quả kiểm tra mô hình lý thuyết về tăng trưởng, phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển. Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đo lường TFP đã được thực hiện, đồng thời kết hợp với nghiên cứu định tính về các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng, đề tài xác định và tìm hiểu thực trạng các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chỉ ra ưu điểm và nhược điểm của các nguồn lực này trong tổng thể nền kinh tế. Phân tích, đánh giá vai trò của các nguồn lực này đối với mô hình tăng trưởng kinh tế đang được thực hiện tại nước đang phát triển như Việt Nam. Đưa ra quan điểm định hướng và đề xuất các giải pháp phát huy các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đối với Việt Nam trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các nguồn lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới góc độ định tính và tổ ng hợ p phân tí ch cá c nghiên cứ u định lượng đã đượ c thự c hiệ n.
Phạm vi nghiên cứu: Đặc biệt chú trọng đến việc thu thập các số liệu phản ánh thực trạng các nguồn lực về nguồn vốn (vốn đầu tư và vốn con người), đo lường các nguồn lực phát triển, các nhân tố ảnh hưởng… và tác động của chúng đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua (chú trọng đến thời kỳ từ 2002 đến 2008).

5. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở biện pháp biện chứng duy vật biện chứng làm phương pháp luận tổng quát, trong quá trình nghiên cứu, luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: logic kết hợp với lịch sử, phân tích kết hợp với tổng hợp và phương pháp phỏng vấn chuyên gia.
Luận văn sử dụng số liệu từ Niên giám thống kê hàng năm của Tổng Cục thống kê; ứng dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng và hàm sản suất Cobb-

Douglas để nghiên cứu vai trò, tác động của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Đi sâu vào tì m hiể u , nghiên cứ u phương pháp và áp dụng thực nghiệm. Mặc dù là luận văn có sử dụng kết quả nghiên cứu về TFP của nhiều tác giả nhưng việc lựa chọn sử dụng các nghiên cứu đều xoay quanh mục tiêu chính, luận văn có thể được xem như một chỉnh thể thống nhất. Các nghiên cứu được lựa chọn sử dụng đều dựa trên đặc thù của đối tượng nghiên cứu để xác định các nhân tố làm cho hoạt động sản xuất trở thành phi hiệu quả cũng như các nhân tố thúc đẩy tăng trưởng. Dù có hạn chế nhất định về cơ sở dữ liệu, các kết quả ước lượng đều được giải thích dựa trên cơ sở lý thuyết, cô đọng và súc tích là các gợi ý và chỉ dẫn hữu ích trong việc đề xuất và xây dựng chính sách.

6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Nghiên cứu về sự đóng góp của các yếu tố đối với tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa về nhiều mặt, không những xác định vị trí của từng yếu tố để có kế hoạch khai thác, mà còn có ý nghĩa xác định được yếu tố tiềm ẩn gia tăng lạm phát. Xác định ý nghĩa và ứng dụng mô hình tăng trưởng thích hợp trong việc xây dựng chính sách nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chỉ ra các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tìm hiểu những động lực và những trở ngại đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua, từ đó gợi ý chiến lược tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow và phương pháp đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế.
Chương 2: Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp phát huy các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đối với Việt Nam trong thời gian tới.

 

CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA SOLOW VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

 

1.1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow và phương pháp hạch toán tăng trưởng

1.1.1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow
Liệu gia tăng mức tiết kiệm quốc dân có thể làm cho mức tăng trưởng của đầu ra tăng thường xuyên hay không? Câu trả lời là “không”. Đó là kết quả bất ngờ nhất của một lý thuyết về tăng trưởng kinh tế do Robert M. Solow lần đầu tiên trình bày trong những năm 1950. [23, tr 65- 94]. Công trình nghiên cứu này đã mang lại cho ông giải thưởng Nobel năm 1987. Những bộ phận chủ yếu tạo thành lý thuyết của Solow là Hàm sản xuất bình quân đầu người và Mối quan hệ giữa mức tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn.
Mô hình tăng trưởng của Solow được lựa chọn làm cơ sở lý thuyết cho việc xác định, đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam vì những lí do sau:
– Mô hình tăng trưởng của Solow có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Trong giai đoạn này, sự đóng góp của vốn vào tốc độ phát triển kinh tế hay sự tăng trưởng của nền kinh tế là rất đáng kể;
– Trong Mô hình tăng trưởng của Solow, công nghệ được coi là biến ngoại sinh, vì vậy nó rất phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu nhập công nghệ từ nước ngoài;

TRUNG TÂM LUẬN VĂN MBA-VIP VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ & TIẾN SĨ CHẤT LƯỢNG CAO.

Liên hệ với chúng tôi:

  • Hotline: 0926.708.666
  • Zalo: 0926.708.666.
  • Email:Lamthueluanvan2014@gmail.com

Để tải bài đầy đủ xin khách hàng ấn vào đây:

download

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *